Lê Quý Đôn
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một nhà văn hóa, học giả lớn của Việt Nam thời Hậu Lê: "Lê Quý Đôn" là tên hiệu của một nhân vật lịch sử nổi tiếng, được coi là nhà bác học uyên bác nhất trong lịch sử văn hóa Việt Nam thế kỷ 18.
- Biểu tượng của sự uyên bác, thông thái: Tên ông thường được dùng như một hình ảnh ẩn dụ để chỉ người có kiến thức sâu rộng, học vấn uyên thâm.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Lê Quý Đôn là tác giả của bộ "Vân đài loại ngữ". (Ông là tác giả của một bách khoa thư nổi tiếng.)
- Ngôi trường này mang tên Lê Quý Đôn. (Tên trường được đặt để vinh danh học giả này.)
- Anh ấy đọc sách nhiều như Lê Quý Đôn vậy. (Câu nói so sánh để khen ngợi người ham đọc sách và hiểu biết rộng.)
Các cách sử dụng nâng cao
- "Tài như Lê Quý Đôn": Thành ngữ dùng để ca ngợi, ví von một người có trí tuệ siêu việt, kiến thức bao la.
- Cụ già đó am tường lịch sử, địa lý, thật đúng là "tài như Lê Quý Đôn".
- "Học giả kiểu Lê Quý Đôn": Cụm từ dùng để chỉ mẫu hình một học giả toàn diện, nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Ông ấy không chuyên sâu một ngành mà nghiên cứu đa ngành, có thể gọi là một học giả kiểu Lê Quý Đôn.
Biến thể và từ liên quan
- Lê Quí Đôn: Cách viết cũ (với dấu sắc trên chữ i) của cùng một danh từ riêng này.
- Cụ Lê: Cách gọi tôn kính, thân mật khi nhắc đến ông.
- Dĩnh Thành Bá/Dĩnh Thành Hầu: Tước vị phong cho Lê Quý Đôn qua các giai đoạn làm quan.
- Quế Đường: Hiệu của Lê Quý Đôn, thường dùng trong tên các tác phẩm của ông (ví dụ: ).
Từ đồng nghĩa/ Cách gọi tương đương
- Nhà bác học: Người có hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khoa học. (Đây là danh từ chung, trong khi "Lê Quý Đôn" là danh từ riêng chỉ một người cụ thể được xem là nhà bác học.)
- Bậc đại khoa: Chỉ người đỗ đạt cao trong khoa cử và có học vấn lớn.
- Bảng nhãn Lê Quý Đôn: Cách gọi nhấn mạnh học vị Tiến sĩ đỗ Bảng nhãn của ông.
Thành ngữ, tục ngữ liên quan
- "Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn": (Thiên hạ không biết điều gì thì hỏi ông Bảng [nhãn] Đôn). Câu nói lưu truyền trong dân gian và sử sách, ca ngợi sự uyên bác, là nơi mọi người tìm đến để hỏi han kiến thức.
- Ông ấy giỏi đến mức trong làng có câu "thiên hạ vô tri vấn" ông ấy. (Ví von so sánh với sự uyên bác của Lê Quý Đôn.)
Thông tin bổ sung (Về nhân vật Lê Quý Đôn)
- Quê quán: Làng Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình).
- Thành tựu khoa cử: Đỗ Giải nguyên (đầu bảng thi Hương) và Bảng nhãn (Nhất giáp nhị danh Tiến sĩ, tức Á nguyên) năm 1752.
- Sự nghiệp: Làm quan trải nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Lê, từng đi sứ nhà Thanh (Trung Quốc). Đảm nhiệm các chức vụ như Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Tổng tài Quốc sử quán, Bồi tụng (Tể tướng).
- Di sản: Để lại một khối lượng trước tác đồ sộ trên nhiều lĩnh vực: lịch sử (), địa lý - xã hội (), văn học (), triết học - bách khoa (), ngôn ngữ...
- (Bính ngọ 1726 - Giáp thìn 1784)
- Nhà văn hóa lớn Việt Nam tời Hậu Lê, thuở nhỏ có tên là Danh Phương, sau đổi là Quí Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Quê làng Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉng Thái Bình)
- Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng lâu đời, thân phụ là Lê Phú Thứ làm quan triều Lê. Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, có trí nhớ phi thường được người đương thời xem là thần đồng
- Năm Quí hơị 1743 đỗ giải nguyên, năm Nhâm thìn 1752 đỗ nhất giáp nhị danh tiến sĩ (Bảng nhãn). Từ thi Hương đến thi Hội đều đỗ đầu cả. Sau khi thi đỗ được bổ Thị độc tòa Hàn lâm, sung Tư nghiệp Quốc Tử giám. Năm Nhâm thìn 1760 làm Phó sứ đi sứ Trung Quốc, khi về được phong tước Dĩnh Thành Bá, rồi thăng Hàn lâm viện thừa chỉ, Đốc đồng Hải Dương. Sau chuyển về Kinh làm Tổng tài Quốc sử quán cùng Nguyễn Hoàn khảo duyệt phần Tục biên Quốc sử
- Năm Quí tị 1773 được bổ Phó Đô ngự sử, rồi thăng Hữu thị lang bộ Công, Bồi tụng. Năm 1776 được cử làm Tham thị Tham tán quân cơ các đạo Thuận Hóa, Quảng Nam. Sau đó đổi về Thăng Long làm Hành Tham tụng tại triều, được phong tước Dĩnh Thành Hầu
- Ngày 2-6-1784 (năm Cảnh Hưng thứ 45) ông mất tại chức, thọ 58 tuổi. Sau khi mất được truy tặng Thượng Thư bộ Công tước Dĩnh Thành Công
- Lê Quí Đôn là một học giả uyên bác, đa dạng và sung mãn nhất của văn hóa Việt Nam. Giới nghiên cứu thế giới (Pháp) xem ông là nhà bác học về lĩnh vực văn hóa của nước ta. Công trình trước tác và sáng tác của ông gồm một thư tịch đồ sộ về nhiều bộ môn: lịch sử, địa lí, văn học, ngôn ngữ học, triết học.
- Các tác phẩm chính gồm:
- - Quốc sử tục biên (8 q)
- - Đại Việt thông sử hay Lê triều thông sử (30q.)
- - Phủ biên tạp lục (7q.)
- - Quần thư khảo biện (4q.)
- - Xuân thu lược luận
- - Bắc sử thông lục (3q.)
- - Toàn Việt thi lục (20q.)
- - Vân đài loại ngữ (4q.)
- - Quế Đường văn tập (3q.)
- - Dịch kinh phủ thuyết (6q.)
- - Kiến văn tiểu lục (3q.)
- - Danh thần lục (2q.)
- - Thư kinh diễn nghĩa (3q.)
- - Toàn Việt văn tập (20q.)
- - Hoàng Việt văn hải (10q.)
- - Quế Đường thi tập (4q.)
- .
- Và một số thơ, phú bằng chữ Nôm
- Trong Lịch triều hiến chương loại chí, khi bình luận ông, Phan Huy Chú viết:
- " Ông (Lê Quí Đôn) tư chất khác đời, thông minh hơn người...Bình sinh làm sách rất nhiều, khi bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi; mà nói đến điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời